Flanker- Loại máy bay chiến đấu tuyệt vời nhất của khối XHCN!!!

•Tháng Sáu 15, 2007 • 6 phản hồi

Flanker chính là tên cúng cơm của loại Su-27, là lớp con cháu hậu duệ đầy ấn tượng và mạnh mẽ nhất so với các loại Su trước đây. Vì sinh ra trong những năm tháng cuối của thời kỳ chiến tranh lạnh nên Flanker không có một cuộc đời may mắn như các vị tiền bối khác. Sự sụp đổ của nhà nước Liên Xô đã kéo theo một thời kỳ khủng hoảng kinh tế tồi tệ cũng là một nguyên nhân không cho Flanker có một một cơ hội nào để chứng minh nó là một loại máy bay chiến đấu tuyệt vời nhất trên thế giới.

Vài dòng tiểu sử của Flanker

Được thai nghén từ năm 1967, Su-27 và Mig-31 đã được trông đợi như một loại vũ khí tấn công để thay thế các loại cổ lỗ như Tu-128, Su-15 và Yak-28P.

Nhờ có những bước đột phá trong thiết kến nên Su-27 có những ưu điểm vượt trội khi không chiến các loại máy bay chiến đấu khác cùng thời.

Đặc biệt các đời từ Su-27 trở về sau đều có chức năng “nguỵ trang” (phát tín hiệu giả đánh lừa đối phương), được nhận xét là hơn cả loại F-15 của Mỹ. Do đó Mỹ và các nước tư bản phương Tây luôn tìm mọi cách để nắm được những kỹ thuật này.

Phiên bản ban đầu của chúng là T-10-1 được thử nghiệm cất cánh lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 5 năm 1977. Tuy nhiên ngay trong lần đầu tiên thử nghiệm này, chúng đã bị các vệ tinh do thám của các nước tư bản phương Tây chụp hình được nhưng những hình ảnh, tuy nhiên những hình ảnh này khá mờ và không có giá trị mấy. Cho đến năm 1985, khi các đài truyền hình Liên Xô chiếu các hình ảnh của Flanker qua một phóng sự về nhà máy Sukhoi OKB, đã đưa ra cho phương Tây các hình ảnh khá cụ thể về Flanker. Từ đó các loại máy bay nhái theo phiên bản của Su-27 như F-14, F-15 và F-16 đã ra đời.

Có nhiều kinh nghệm đã được rút ra trong quá trình thử nghiệm loại máy bay mới này: trong lần bay thử nghiệm thứ 2 của chiếc T-10-1, một số bộ phận trong hệ thống lái bị trục trặc làm máy bay bị rơi và một phi công bị thiệt mạng trong quá trình phóng ra khỏi buồng lái (ejection)

Bên cạnh đó vào năm 1979 một chiếc mô hình tương tự khác đã được tiến hành thử nghiệm nhưng thất bại do động cơ không đạt được hiệu suất cho phép. Lực kéo đã cao hơn mong đợi, mức hao hụt nhiên liệu quá cao và các thiết bị điện tử nặng nề đặt phần trước mũi máy bay đã làm mất sự ổn định cần thiết khi bay. Hơn nữa trong quá trình bay, nhiều bộ phận ở cánh và đuôi bị rung lắc mạnh đó đó cần có sự bổ sung các bộ phận chống rung ở phần cánh và đuôi máy bay.

Trong cùng thời gian, các thông tin tình báo chi tiết về F-15 cho thấy Flanker trong tương lai sẽ không có đối thủ trong các cuộc không chiến.

Không lâu sau một mô hình cải tiến mới đã hoàn thành là T-10-7 và T-10-8. So với các mẫu thử nghiệm trước ở loại này, với kiểu cánh mới đã cải thiện sức nâng thẳng góc và đã giải quyết được vấn đề trong các bộ phận nằm ở phần mũi máy bay và việc thay thế mặt cong ở đầu cánh đã giải quyết được sự rung. Thân máy bay được thiết kế chắc chắn với kích thước lớn hơn, bộ phận giữ thăng bằng đã được cải tiến với kích cỡ to hơn trước và bộ phận hãm (air brake) cũng được thiết kế lại.


Bộ phận hãm phía trên máy bay

Loại T-10S-1 đầu tiên cất cánh vào năm 1981, nhưng vấn đề ở bộ phận điện tử nằm ở phần mũi máy bay vẫn là một sự cản trở lớn của dự án. Và chúnng đã bị gián đoạn cho đến năm 1985 dự án mới tiếp tục sau quá trình cải tiến bộ phận điện tử và về động cơ bằng loại mô hình mới P-42. Từ tháng 10 năm 1986 đến tháng 12 năm 1988 P-42 đã lập được 27 kỷ lục thế giới về tốc độ và thời gian đạt độ cao.

Các phiên bản khác của Flanker

Thông thường, tên của các phiên bản cải tiến sau của các loại máy bay thường được thêm vào một mẫu chữ cái như F-16A, F-16B, F-16C …
Nhưng các phiên bản sau của Flanker thì lại khác, các bạn hãy xem thử nhé

Su-30: ban đầu nó còn có tên gọi là Su-27PU, đây là phiên bản cải tiến của Su-27UB có 2 chỗ ngồi. Không như Su-27UB, loại Su-30 là loại có đầy đủ tất cả các chức năng chiến đấu. Các bộ phận của động cơ được cải tiến để thời gian tác chiến trên không lên trên 10h.

Su-30MK: Đây là một phiên bản cải tiến của đời trước nó Su-30, được tối ưu hoá khả năng chính xác của hệ thống dẫn đường cho bom và tên lửa. Một số chiếc còn được trang bị loại tên lửa có tầm bắn tới 120 km.

Su-33: nguyên gốc của nó là loại Su-27K, được cải tiến để tăng cường khả năng cất và hạ cánh
Đuôi được cải tiến thu ngắn lại để giảm rủi ro khi bị va đập vào đuôi khi ở chế độ hạ cánh AOA (Angle of Attack (AOA) – This is the vertical difference between the trajectory or flight path and the direction the plane is pointing or pitch angle.)
Trong khi Su-27 được sản xuất với chức năng chính là không đối không thì Su-33 là một loại có đầy đủ các chức năng tác chiến.

Su-34: còn được gọi là Su-32FN, hai chỗ ngồi (side by side cockpit), có tầm bắn xa hơn, tác chiến được cả ngày lẫn đêm. Được xem là lớp hậu duệ xứng đáng để thay thế các đàn anh: MiG-27, Su-17 và Su-24. Chiếc Su-34 đã được xuất xưởngcất cánh lần đầu tiên vào ngày 18-12-1993. Loại Su-34 này có sự cải tiến bộ phận phát tín hiệu giả nhằm làm giảm khả năng phát hiện của đối phương, cấu tạo phần đuôi được kéo dài ra được gắn thêm hệ thống dẫn đường cho tên lửa hướng về sau để mở rộng tầm khai hoả và độ chính xác và rađa có thêm chức năng hiển thị địa hình. Một điểm khá thú vị khác là Su-34 còn được trang bị một thiết bị đặc biệt cho phép phi công có thể đi WC và ngủ khi bay đường dài.

Su-35: nguyên bản là Su-27M, hệ thống điện tử được cải tiến hơn các đời Su-27: chúng đã thay thế sự hiển thị truyền thống analog bằng digital và khả năng hiển thị nhiều thông số nổi trên kính máy bay được phát triển đến mức tối ưu giúp phi công có thể đạt hiệu quả tác chiến cao nhất. Sự sụp đổ của Liên Xô đã cản trở sự triển khai rộng rãi Su-35 trong không quân Nga, tuy nhiên chúng vẫn được ra mắt đều đặn trong các kỳ triển lãm hàng không quốc tế gần đây.


Hình ảnh trong buồng lái của Flanker

Su-37: Được trình bày tại một số cuộc triển lãm hàng không, được phát triển từ loại Su-35, được trang bị một hệ thống đặc biệt cho phép tăng cường khả năng giảm tốc một cách nhanh chóng khi bay. Không quân Nga đã tuyên bố chúng là loại cuối cùng trong chủng loại các đời Flanker.

nguồn: ttvnol

Secret Garden (duo)

•Tháng Năm 21, 2007 • 4 phản hồi


Nếu bạn có dịp nào đó đến với cố đô Huế mộng mơ trầm mặc này và bắt gặp một cơn mưa chiều thì có lẽ bạn sẽ hiểu được cái cảm giác buồn rất riêng của mưa Huế. Từng giọt mưa rơi xuống những con đường nhỏ, lá cây lìa cành cuốn theo dòng nước nhẹ lững lờ trôi, con đường vắng tanh ai nấy đều ở trong nhà để tránh mưa. Còn tôi những lúc này thường play bản hoà tấu buồn Song From A Secret Garden. Không biết đã ai trong các bạn nghe bản hoà tấu này chưa nhưng thực sự khi nghe bài nay trong lòng tôi lại dâng lên một nỗi buồn kỳ lạ để rồi cuối cùng lại dâng một niềm vui mừng khôn xiết…

Có lẽ là tôi đã có cùng tâm trạng với cậu bé trong bộ phim cùng tên với bài hát này. Cậu bé này bị câm và mồ côi mẹ. Sau khi mẹ của cậu bé chết đi, ông bố của cậu bé đã nhốt cậu vào một căn phòng trong nhà. Đó là chính là những ngày tháng đau khổ nhất của cậu bé, cậu phải sống cuộc sống không có tự do, tuổi thơ của cậu bị nhấn chìm trong bóng tối. Để rồi một ngày kia, từ đâu đó phía sau căn nhà bỗng vang lên những giai điệu buồn (chính là bản nhạc mà bạn đang nghe đấy) và với một sức mạnh vô hình cậu bé đã thoát ra được căn phòng ấy rồi đi theo tiếng nhạc. Tiếng nhạc đó được phát ra từ một khu vườn ẩn và nõi này đã làm cậu bé hồi tưởng lại những kỷ niệm về người mẹ của cậu khi còn nhỏ và cậu bỗng cất tiếng nói. Có lẽ trong cuộc đời cậu đó chính là ngày đẹp nhất của cuộc đời bởi vì cậu không còn cảm thấy cô đơn và buồn tủi nữa…

Ban nhạc đã chơi bản nhạc này là Secret Garden đến từ Na Uy. Ban nhạc này gồm hai thành viên chính là Fionnuala Sherry (chơi violon) và Rolf Lovland (Sáng tác, nhà sản xuất và chơi keyboards). Nhắc đến Secret Garden có lẽ không ai không biết đến những bản nhạc dễ đi vào lòng người như Sona, Dawn Of The New Century, Passacaglia, Nocturne, Appassionata, Dream Catcher…và đặc biệt là Song From A Secret Garden…

Tiếng piano mở đầu bài nhạc thật buồn rồi tiếng violon len vào làm cho nhịp của bài hát này chậm lại và nỗi buồn dường như là cực điểm. Giai điệu ngân lên như kéo mạch cảm xúc của tôi dừng lại…suy ngẫm…trầm tư. Giai điệu chầm chậm ru như chiếc lá vàng rơi giữa bầu trời xanh…Giai điệu bài hát này còn khiến tôi liên tưởng đến mạch nước dòng Hương chảy mà mỗi khi buồn tôi vẫn thường ngắm…Nước dòng Hương vẫn lặng lẽ trôi như từng âm thanh buồn mênh mang vang lên từ bài hát…Quả thật không phải ngẫu nhiên mà người ta cho rằng Violon là “Nữ hoàng của các loại nhạc cụ”, cây đàn này đã thể hiện được và rất chân thực cái hồn của bản nhạc, cái hồn đó như đồng cảm với nỗi buồn của những con người yêu nhạc…

Đến cuối bài nhạc này thì môtuýp nhạc vẫn thế nhưng mỗi lần khúc nhạc ngân lên là mỗi lần tôi vơi đi nỗi buồn bởi vì cái linh hồn của bài hát dường như đã chia sẻ và xoa dịu những buồn phiền trong tôi…Âm thanh này vẫn tiếp âm thanh khác quyến luyến làm xao xuyến lòng người. Đến cuối bài thì tiếng sáo flute được lồng vào nhý muốn gạt đi những nỗi buồn của người yêu nhạc giúp họ sống yêu đời hơn vậy. Cái tên của bài hát gợi cho tôi một cảm giác thật huyền bí, có lẽ bài hát này được Rolf Lovland viết nên từ những cảm khúc rất thật của mình. Ôi! Giai điệu của nó mới nhẹ nhàng và tuyệt vời biết bao. Có lẽ đây là món quà mà Secret Garden muốn tặng cho những người yêu nhạc.

Bài hát này rất hay được lồng trong phim các bạn ạ nhất là những lúc cần diễn tả nội tâm. Nó lột tả nội tâm của nhân vật trữ tình trong phim một cách sâu sắc và chân thực khiến cho người xem dù vô cảm đến bao nhiêu cũng cảm thấy nao lòng và đồng cảm với nhân vật trữ tình trong phim…

FionnualaSherry

RolfLovland

  • lấy từ www.ttvnol.com
  • Còn đây là phần chính: 8 album của Secret Garden từ hồi đầu thành lập (Songs from a Secret Garden (1995) đến Earthsongs (2005))

    http://rapidshare.de/files/17725481/SG_Dawn_of_new_century.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17730039/SG_Dreamcatcher.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17733607/SG_Earth_songs.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17737952/SG_Fairytales_-_Highlights_From_Secret_Garden.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17741658/SG_once_in_the_red_moon.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17744803/SG_songs_from_SG.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17748022/SG_The_Best_1999-2000.part1.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17750791/SG_The_Best_1999-2000.part2.rar.html
    http://rapidshare.de/files/17754971/SG_whitestone.rar.html

    V.A. – Romantic Guitar – 2007

    •Tháng Năm 20, 2007 • Để lại phản hồi


    Format: Mp3 – RAR | Size: 89.50MB | Bitrates: 320kbps

    01 Just Called To Say I Love You
    02 One Moment In Time
    03 Always
    04 Lost In Your Eyes
    05 The One That You Love
    06 Always On My Mind
    07 Something In Your Eyes
    08 Slow Hand
    09 Careless Whisper
    10 Tonight I Celebrate My Love
    11 Close To You
    12 Casablanca
    13 Woman In Love
    14 Just One
    15 Straight Form The Heart
    16 Crazy For You

    Download Megaupload
    Download Rapidshare

    Password: www.woim.net
    Lấy từ woim.net all rights reserved

    Guitar Music For Small Rooms 2

    •Tháng Năm 20, 2007 • 3 phản hồi

    Guitar Music For Small Room vol 2
    Format: Mp3 – RAR | Size: 102 MB | Bitrates: 128kbps
    01. Reptile
    02. Samba Pa Ti
    03. Bolero De Luna
    04. Chan Chan
    05. Foreve
    06. Santa Fe
    07. I Think It’s Going To Work Out Fine
    08. Sienna
    09. Sleepwal
    10. Breezin
    11. Bumpin’ On Sunset
    12. Classical Gas
    13. Pegao
    14. Cavatina (From The Deer Hunter)
    15. Concierto De Aranjuez (Adagio)
    16. Greensleeves
    17. When It’s Gone, It’s Gone
    18. Just Like The Day
    Password: http://www.woim.net

    Lấy từ Woim.net – all rights reserved
    Download

    Phi công MiG-17 và MiG-21, “sát thủ” diệt “Con Ma”, “Thần Sấm” – phần 2

    •Tháng Năm 20, 2007 • Để lại phản hồi

    tiếp theo kỳ trước

    Đại tá Toon là ai?

    Người đọc Hoa Kỳ rất có thể đã từng nghe về người phi công Át huyền thoại của Việt Nam, đại tá Toon (hoặc Tomb). Nhưng vì sao ông không có trong danh sách ở đây? Bởi vì ông ta đúng là chỉ có trong “huyền thoại”. Chẳng có phi công nào là Đại tá Toon của Không quân Việt Nam, ông ta là nhân vật tưởng tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm. Như là một thiện ý của các phi công Mỹ, đại tá Toon là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam, giống như những “nghệ sỹ sôlô” ném bom đơn độc ban đêm trong chiến tranh thế giới II được gọi là “máy giặt Sác-li” vậy.

    Nguyễn Văn Bảy

    Khi Trung đoàn không quân tiêm kích 923 được thành lập ngày 7 tháng Chín năm 1965, Nguyễn Văn Bảy là một trong những học viên được lựa chọn để học lái MiG-17 Fresco. Khóa học kết thúc tháng Giêng năm 1966, và người trung úy trẻ tuổi nhanh chóng được tham gia vào cuộc đối mặt với Không lực Hoa Kỳ.

    Ngày 21 tháng Giêng năm 1966, bốn chiếc MiG-17 của Trung đoàn không quân tiêm kích 923 “túm được” một chiếc máy bay trinh sát RF-8A cùng với mấy gã hộ vệ F-8 Crusader (Hiệp sỹ thánh chiến) của phi đội 211 Hoa Kỳ. Mặc dù đội “Hiệp sỹ thánh chiến” bắn rơi được hai chiếc MiG, Nguyễn Văn Bảy vẫn ghi được bàn thắng đầu tiên của mình bằng một chiếc F-8E của Cole Black, người sau đó nhảy dù và bị bắt làm tù binh. Quan trọng hơn, các phi công Việt Nam đã lập được chiến công của họ: Bảy và người chỉ huy, phi công Phan Thành Trung trong vai trò của người chỉ huy đội đã bắn hạ một chiếc RF-8A. Người phi công, Leonard Eastman sau đó cũng bị bắt làm tù binh.

    Một tuần sau đó, ngày 29 tháng Sáu, Bảy cùng ba phi công MiG-17 khác tham gia vào trận đánh với các máy bay F-105D đang tới đánh vào kho xăng Đức Giang (Hà Nội), và (cùng với Phạm Văn Túc) Nguyễn Văn Bảy bất ngờ hạ luôn một chiếc F-105D. Người phi công bị hạ chính là tốp trưởng, thiếu tá Murphy Neal Jones sau đó bị bắt làm tù binh.

    Chiếc MiG-17F số hiệu 2047, tại bảo tàng Không quân Hà Nội. Phi công Nguyễn Văn Bảy đã dùng chiếc tiêm kích này bắn bị thương tàu khu trục USS Oklahoma City ngày 19 tháng Tư năm 1972.

    Tàu khu trục USS Oklahoma City đang trao đổi mệnh lệnh với tàu liên lạc USS Providence (Hạm đội 7 Hoa Kỳ)

    Trận đánh giòn giã nhất của Nguyễn Văn Bảy là vào ngày 24 tháng Tư năm 1967. Cùng với người biên đội trưởng, biên đội bất ngờ, bí mật cất cánh từ sân bay dã chiến Kiến An, đưa những chiếc MiG-17 vào trận “tiếp đón” các máy bay của hải quân Hoa Kỳ vào đánh cảng Hải Phòng. Bảy tiếp cận một chiếc F-8C của Phi đội 24 và dùng khẩu cà-nông 37mm của mình bắn nó vỡ tan thành từng mảnh. Chiếc F-8C số hiệu 146915 do thiếu tá hải quân E.J.Tucker bốc cháy và vỡ vụn. E.J.Tucker nhảy dù và bị bắt (nhưng sau đó chết trong khi bị giam). Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống tìm cố gỡ bàn bằng cách lao vào công kích Bảy, nhưng người trợ thủ của Bảy, Nguyễn Thế Hơn đã kịp báo cho anh, Bảy tài tình ngoặt gấp tránh được tất cả những cú phóng tên lửa của máy bay Mỹ. Sau đó chính anh lại lao chiếc MiG-17 Fresco của mình về phía một chiếc F-4 Con Ma, hạ nó bằng pháo (Tổ bay, các thiếu tá hải quân C.E. Southwick và Ens. J.W. Land nhảy dù và được cứu, vẫn nghĩ rằng mình bị bắn rơi bởi pháo cao xạ phòng không). Ngày hôm sau 25 tháng Tư, biên đội của Bảy lại tiếp tục ghi bàn, bắn hạ hai chiếc A-4 mà chẳng bị thiệt hại gì. Cả hai chiến công của họ đều được xác nhận chính thức bởi Hải quân Hoa Kỳ: chiếc A-4C số hiệu 147799 trung úy Stackhouse (bị bắt làm tù binh) – rơi xuống trước mũi súng của Bảy và chiếc thứ hai, chiếc A-4C số hiệu 151102, lái bởi trung úy hải quân A.R. Crebo (được cứu thoát). Bảy được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng quân đội vì kỹ thuật bay và tinh thần dũng cảm trong chiến đấu, và cả do sự chỉ huy biên đội tài tình. Đầu năm 1972, Bảy cùng với người đồng đội Lê Xuân Di được các chuyên gia Cuba huấn luyện trong chống tàu chiến, và họ quả là những học trò giỏi. Ngày 19 tháng Tư năm 1972, họ tấn công hai chiếc Khu trục hạm USS Oklahoma City và Highbee, đang làm nhiệm vụ pháo kích thành phố Vinh. Trong khi Bảy bắn bị thương nhẹ chiếc thứ nhất, Lê Xuân Di đã thả một quả bom 500 bảng (hơn 200 kg) BETAB-250 trúng tháp chỉ huy phía sau chiếc thứ hai. Đây là trận bị tấn công từ trên không đầu tiên của Hạm đội Bảy Hải quân Hoa Kỳ kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới 2.

    Nguyễn Đức Soát

    Một trong những khả năng xuất sắc của Không quân Việt Nam là việc các phi công thành công có thể truyền kinh nghiệm của mình cho các phi công trẻ. Đó là trường hợp của Nguyễn Đức Soát. Là một phi công tiêm kích MiG-21 trẻ măng của Trung đoàn 921, và thày giáo của anh chính là những phi công “nóng” nhất của Không quân Việt Nam: Phạm Thanh Ngân (hạ 8 chiếc) và “con người siêu phàm” Nguyễn Văn Cốc (9 trận thắng). Soát không cần gì nhiều hơn thế nữa. Trong khi còn chưa lập được chiến công, anh thu thập kinh nghiệm cho mình.

    Tham gia vào thành phần Trung đoàn không quân tiêm kích 927, khi chiến dịch “Linebacker I” bắt đầu tháng Năm năm 1972, Soát đã hoàn toàn sẵn sàng “trình diễn” những kỹ năng của mình. Ngày 23 tháng Năm, anh “ghi bàn” lần đầu tiên, bắn hạ chiếc A-7B Corsair II của Hải quân Hoa Kỳ bằng pháo 30mm. Phi công Charles Barnett bị chết.

    Ngày 24 tháng Sáu, hai chiếc MiG-21 của Nguyễn Đức Nhu và Hà Vinh Thanh cất cánh ở sân bay Nội Bài vào lúc 15 giờ 12 phút để đánh chặn một tốp Con Ma lên không kích nhà máy gang thép Thái Nguyên. Đội hình hộ tống Mỹ nhanh chóng phản ứng và nghênh chiến. Nhưng hai chiếc MiG đó chỉ là mồi nhử, vì bất ngờ hai chiếc MiG-21PFM của Trung đoàn 927 xuất hiện: Nguyễn Đức Soát (biên đội trưởng hai chiếc) và Ngô Duy Thu (hộ vệ), lao từ đâu tới tấn công đội hình F-4 hộ tống. Bắn bằng quả tên lửa không đối không có đầu dẫn nhiệt R-3S Atoll, Soát hạ chiếc F-4E của David Grant và William Beekman, Thu cũng hạ một chiếc Con Ma khác.

    Nguyễn Đức Soát đã hạ được vài chiếc F-4 của Không lực Hoa Kỳ trên chiếc MiG-21PFM Fishbed số hiệu 5020 này

    Ba ngày sau, Soát và Thu lại kín đáo cất cánh từ sân bay Nội Bài vào 11 giờ 53 phút để đánh chặn một tốp 4 chiếc F-4, nhưng vẫn biết rằng còn có 8 chiếc Con Ma khác đang bay tới, họ không thể bị “mắc kẹt”(2) lại ở giữa hai tốp đó. Họ ngoặt lại, vọt lên độ cao 5000 mét và chờ đợi. Sự kiên nhẫn đã được đền đáp, họ “túm” được cặp F-4 đi sau cùng. Cả Soát và Thu đều mỗi người hạ một chiếc bằng tên lửa R-3. Hai phi công Mỹ “nạn nhân” của Soát là Miller và McDow bị bắt làm tù binh.

    Ngày 26 tháng Tám 1972, Nguyễn Đức Soát lập công xuất sắc bắn hạ một chiếc Con Ma duy nhất của Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Sỹ quan chống rađa của chiếc F-4J được cứu nhưng người phi công xấu số Sam Cordova thì thiệt mạng. Soát ghi chiến công cuối cùng của mình vào ngày 12 tháng Mười năm 1972, khi anh “giật phăng” khỏi bầu trời chiếc F-4E của Myron Young và Cecil Brunson (bị bắt làm tù binh).

    Cùng với Nguyễn Văn Cốc và các phi công cựu chiến binh khác của Không quân nhân dân Việt Nam, Soát là một huyền thoại sống bởi những chiến công dũng cảm và kỹ thuật bay tuyệt vời của mình hơn ba mươi năm trước.

    (1) Duke: công tước, tiếng lóng: nắm đấm

    (2) Nguyên văn: bị kẹp như giữa hai miếng sandwitch.

    Người dịch: Ngô Ngọc Phương

    Bonus:

    Tám huy hiệu của Bác Hồ tặng Thượng tướng Phạm Thanh Ngân

    … Trong cuộc đời binh nghiệp của tướng Phạm Thanh Ngân, có một điều khá thú vị là phần lớn những kỷ vật của ông đều gắn với những kỷ niệm về Bác Hồ: Ông được Bác Hồ tặng tám chiếc huy hiệu, vì tám lần bắn rơi tám chiếc máy bay. Ông cũng là một trong những Anh hùng không quân được trực tiếp gặp Bác Hồ, được Bác tặng chiếc đồng hồ có khắc chữ ở mặt sau “Bác Hồ tặng Phạm Thanh Ngân, tháng 12 năm 1968”…

    … Phạm Thanh Ngân bắt đầu tham gia chiến đấu từ tháng 6 năm 1966, khi địch đánh kho xăng Đức Giang ( Hà Nội) và Thượng Lý (Hải Phòng)…mở đầu bước leo thang mới đánh phá hệ thống xăng dầu và Thủ đô Hà Nội. Lúc đầu Phạm Thanh Ngân rất bỡ ngỡ, vì ngay cả ở dưới mặt đất còn chưa đánh địch bao giờ huống chi đánh chúng ở trên trời. Được đồng chí Trần Hanh truyền đạt cho một số kinh nghiệm, nhưng khi gặp địch trận đầu, địch rất đông, gấp hàng chục lần máy bay của ta, lần đầu tiên tham gia chiến đấu, Ngân không bắn rơi được máy bay Mỹ nào. Đến khoảng tháng 10, tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân tham gia các trận chiến đấu dồn dập hơn. Lại được Nguyễn Văn Cốc bay cùng. Hai người thường bay yểm hộ cho nhau.

    Máy bay Mỹ mỗi khi đi đánh phá miền Bắc, tốp đi đầu là bọn cường kích F-105, theo sau là máy bay F-4, F-4C để yểm hộ. Thời gian đầu, Phạm Thanh Ngân không bắn được máy bay cường kích của địch. Mục tiêu lúc đó đặt ra là phải làm sao bắn rơi được bọn cường kích để chúng không ném bom phá hoại miền Bắc được, nhất là Hà Nội. Trận ngày 18 tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân phối hợp với tên lửa đánh một trận rất hay. Hôm đó một tốp máy bay của địch gồm 12 chiếc F-105 và 4 chiếc F-4 bám sau, xuất hiện trên bầu trời Yên Bái- Phú Thọ. Chúng bay từ Thái Lan sang, vòng xuống núp sau dãy núi Tam Đảo hướng vào Hà Nội. Sau khi phát hiện mục tiêu, Ngân nhanh chóng thông báo và lệnh cho máy bay số 2 công kích tốp cường kích bên phải còn mình xông thẳng vào tốp bên trái, mặc dù biết phía sau máy bay F-4 của địch đang bám theo. “Tôi đột ngột tăng tốc độ, phóng một quả tên lửa thứ nhất vào tốp đi đầu, sau ít giây, máy bay địch bốc cháy. Lúc này tốc độ tiếp cận rất lớn, tôi cho máy bay vọt lên rồi phóng quả tên lửa số 2 tiêu diệt chiếc F-105 thứ 2 của địch. Cùng lúc, máy bay số 2 cũng phóng tên lửa vào tốp máy bay bên phải, một máy bay địch trúng đạn bốc cháy”, ông nhớ lại. Trận đó biên đội của Ngân bắn rơi 3 chiếc, tên lửa đối không của ta cũng hạ được 6 chiếc, trong đó có một chiếc F-105 do một tên đại tá phi công Mỹ lái. Đây là trận đánh hiệp đồng tuyệt đẹp của không quân và tên lửa phòng không. Trong 2 ngày tiếp theo, biên đội của Ngân bắn rơi thêm 2 chiếc nữa…”.

    Với thành tích bắn rơi 8 máy bay Mỹ, chỉ huy đơn vị bắn rơi 8 chiếc khác, Phạm Thanh Ngân được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1969. Từ năm 1989 đến năm 1996, ông là Tư lệnh Quân chủng Không quân. Từ năm 1998 đến năm 2001, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Chinh trị. Khi đã là Uỷ viên Bộ Chính trị, Thượng tướng- Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông vẫn nhớ như in những ngày tháng chiến đấu oanh liệt đó. Hiện ông là Trưởng ban chỉ đạo tổng kết chiến lược về quân sự và quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị.

    Thượng tướng Phạm Thanh Ngân hồi tưởng: “Tôi kể xong, bác Phạm Văn Đồng hỏi tiếp: “Thế đồng chí lái được loại máy bay gì?” Tôi trả lời: “Thưa Bác, cháu lái được MIG 17 và MiG-21”. Bác Đồng lại hỏi: “Thế đồng chí lái máy bay nào tốt hơn”. Tôi trả lời: “Thưa bác, cháu lái máy bay MiG-21 tốt hơn ạ!”. Bác Đồng lại hỏi: “Thế đồng chí bay được bao nhiêu giờ rồi?”. Tôi đáp: “Thưa, được khoảng 200 giờ ạ!”. Thế số anh em mới về lái có tốt không?. Tôi trả lời: “Dạ thưa, số anh em mới về trẻ, khoẻ có kiến thức nhưng chưa có kinh nghiệm thực tiễn. Các đồng chí ấy tương lai sẽ rất giỏi ạ !”…

    (Bá Kiên – Trần Dương)

    Bảo vệ cầu Long Biên

    … Không quân Nhân dân Việt Nam đã cất cánh hàng trăm lần chiếc, chiến đấu bảo vệ Hà Nội, bảo vệ cầu Long Biên. Tôi nhớ mãi trận đánh bảo vệ Hà Nội ngày độc lập 2-9-1972. Hôm đó, chúng tôi được phổ biến, bọn Mỹ sẽ tổ chức đánh lớn Thủ đô Hà Nội, nhằm phá hoại ngày lễ độc lập của ta. Mới sáng sớm, hai chiếc F-4 đã lượn qua Hòa Bình- Mộc Châu. Tàu cấp cứu, trực thăng, được lệnh tiến vào khu vực cứu nạn, 10 giờ 30 phút, máy bay mang bom xuất hiện. Biên đội hai chiếc MiG- 21 cất cánh từ sân bay Nội Bài chặn địch ở hướng Tây Nam, một biên đội MiG-19 do Hoàng Cao Bổng và Nguyễn Văn Quảng cất cánh ra khu vực Việt Trì. Địch vào rất đông. Nhưng hai gọng kìm của Không quân ta với lợi thế cơ động, bất ngờ đã băm nát đội hình của địch, hai chiếc MiG- 21 thu hút toàn bộ tiêm kích hướng về Hoà Bình. ở Việt Trì, 12 chiếc F-4 mang bom từ phía Tây theo đường số 2 tiến vào Hà Nội, gặp biên đội MiG – 19, đã chờ sẵn. Trong chớp mắt, ngay loạt đạn đầu, Hoàng Cao Bổng bắn rơi một chiếc F-4.

    Bọn Mỹ thả bom khẩn cấp, trở thành những chiếc tiêm kích không chiến với MiG-19. Bổng yểm hộ cho Quảng quần nhau với bọn Mỹ. MiG- 19 nhiều lần tiếp cận, chiếm được góc trong, nhưng không bắn được. Cuộc không chiến ác liệt, không gian như nứt ra, bọn Mỹ quyết bắn rơi MiG – 19. Nhưng, hai chiếc MiG của ta yểm hộ nhau rất tốt. Chớp thời cơ một chiếc F-4 lỏng tay lái, Nguyễn Văn Quảng đè đầu chiếc F-4D, xả một tràng đạn cắt chiếc F-4D làm hai tên giặc lái không kịp nhảy dù…

    (Lê Thành Chơn)

    Sẵn sàng xuất kích trong đêm bảo vệ bầu trời Tổ quốc

     

     

     

     

    nguồn : www.nuocnga.net

    Phi công MiG-17 và MiG-21, “sát thủ” diệt “Con Ma”, “Thần Sấm” – phần 1

    •Tháng Năm 20, 2007 • 5 phản hồi

    Ngày 23 tháng Tám 1967, lúc 14 giờ, một trận tập kích đường không nữa của Không lực Hoa Kỳ vào thủ đô ở miền Bắc của Việt Nam đang được tiến hành.

    Máy bay tiêm kích MiG-17 “Fresco” của Không quân nhân dân Việt Nam

    Do lực lượng được phái đi rất đông (40 máy bay, bao gồm các máy bay Thần sấm F-105 mang theo bom, F-105F làm nhiệm vụ chế áp các dàn rađa điều khiển tên lửa SAM của Việt Nam và các Con Ma F-4 đi làm nhiệm vụ hộ tống), tổ bay của một trong những chiếc F-4D, Charles R. Tyler (phi công) và Ronald M. Sittner (sỹ quan hỏa lực) của phi đội chiến thuật 555 thuộc phi đoàn chiến thuật 8, cảm thấy rất tự tin. Họ không trông đợi sự tiếp đón của MiG, có vẻ như đã bị tê liệt sau những trận không chiến ác liệt chống lại F-4 của Phi đoàn 8 cuối tháng Năm và đầu tháng Sáu. Tyler nghe trong rađiô tiếng của một phi công của chiếc F-105D (Elmo Baker) thông báo rằng anh ta bị MiG tấn công và phải nhảy dù. Tyler còn đang cố tìm xem đồng đội đang ở đâu thì một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả máy bay, Tyler mất khả năng điều khiển nó và bị bắn bật ra ngoài. Treo lơ lửng dưới những múi dù, anh ta nhìn thấy chiếc F-4 bốc cháy rơi xuống rừng rậm, còn người sỹ quan hỏa lực thì không thấy nhảy dù ra – Sittner đã bị giết bằng chính quả tên lửa đã bắn vào máy bay. Cả Tyler và Baker đều bị bắt bởi lính Bắc Việt ngay khi tiếp đất.

    Máy bay tiêm kích MiG-21 “Fishbed” của Không quân nhân dân Việt Nam

    Cả hai máy bay Mỹ đều bị bắn hạ bởi tên lửa không đối không R-3S Atoll của hai chiếc MiG-21PF “Fishbed” (Tên Mỹ đặt cho MiG-21) của Trung đoàn 921 của Quân chủng Không quân (Lực lượng không quân Việt Nam) lái bởi Nguyễn Nhật Chiêu và Nguyễn Văn Cốc. Hai chiếc F-4 khác cũng bị hạ, mà không đi kèm bất kỳ thiệt hại nào của MiG. Quả là một ngày chiến đấu thành công của họ.

    Máy bay F-4 “Con Ma” của Không lực Hoa Kỳ

    Trong khi chỉ có hai phi công Mỹ trở thành Át trong chiến tranh Việt Nam, Randy “Duke”(1) Cunningham (Hải quân Hoa Kỳ) và Steve Ritchie (Không lực Hoa Kỳ) thì có đến 16 phi công Việt Nam đạt được danh hiệu tự hào đó. Nguyễn Văn Cốc là Át chủ bài dẫn đầu của nhóm các phi công này, với thành tích 9 máy bay Mỹ (7 máy bay và 2 chiếc “xe trên trời không người lái” Firebees). Trong số 7 chiếc của anh, có 6 chiếc được chính thức xác nhận bởi Không lực Hoa Kỳ, nhưng chúng ta có thể ghi thêm vào đó một chiếc thứ 7 nữa, chiếc F-102A của phi công Mỹ Wallace Wiggins (chết) bị hạ ngày 3 tháng Hai năm 1968, được kiểm tra chính xác bởi Không quân Việt Nam. Bỏ qua hai “con ong ngớ ngẩn” không người lái, thì Nguyễn Văn Cốc vẫn là phi công “đỉnh” nhất trong chiến tranh trên bầu trời Bắc Việt vì không có bất cứ một phi công Mỹ nào đạt được thành tích hạ trên 5 chiếc.

    Vậy thì tại sao các phi công Việt Nam lại ghi được nhiều bàn thắng hơn các phi công Mỹ? Có lẽ lý do đầu tiên là số lượng. Trong năm 1965, Không quân Việt Nam chỉ có 36 chiếc MiG-17 với một số lượng tương đương phi công, thì đến 1968 họ đã có tới 180 chiếc MiG và 72 phi công. Sáu “tiểu đội” phi công dũng cảm này phải đối mặt với 200 chiếc F-4 của các phi đoàn 8, 35 và 366; khoảng 140 chiếc Thần sấm F-105 của các phi đoàn 355 và 388 của Không lực Hoa Kỳ và khoảng 100 chiếc của Hải quân Hoa Kỳ (F-8, A-4 và F-4) từ tàu sân bay “Yankee Station” trực chiến trong Vịnh Bắc Bộ, kiêm cả các nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động không kích (EB-6B – gây nhiễu; HH-53 – cứu phi công nhảy dù; “Skyraider” yểm hộ hai loại trên).

    Tàu sân bay “Yankee Station”

    Máy bay A-4 của Hải quân Hoa Kỳ

    Máy bay F8E-Crusader của Hải quân Hoa Kỳ

    Skyraider

    Trực thăng HH-53

    Như vậy, phi công Việt Nam rõ ràng là “bận rộn” hơn đối thủ, và đồng thời họ dễ dàng tìm được mục tiêu để diệt hơn, và quan trọng là họ chiến đấu với tinh thần “chiến đấu đến khi hy sinh”. Họ không cần phải về nhà, vì đây đã là nhà của họ rồi – Tổ quốc. Phi công Mỹ cứ sau 100 chuyến xuất kích lại được về thăm nhà, ngoài ra còn được về để huấn luyện, để nhận lệnh hoặc trăm thứ việc linh tinh khác. Khi quay lại, không phải ai cũng sẵn sàng chiến đấu.

    Phi công tiêm kích MiG-17của Việt Nam đang chạy tới máy bay để xuất kích đánh chặn máy bay Mỹ

    Vậy thì đặc điểm của chiến thuật của hai bên là gì? Bởi vì Không lực Hoa Kỳ đã không tấn công tiêu diệt được các dàn rađa và trung tâm chỉ huy bay của Bắc Việt (lúc đó họ cho rằng được sự cố vấn của các chuyên gia quân sự Liên Xô hoặc Trung Quốc), người Việt Nam đã dẫn các máy bay tiêm kích đánh chặn của họ một cách tài tình với chiến thuật “du kích”, mai phục trên bầu trời. Những chiếc MiG nhanh như cắt và bất ngờ tấn công vào đội hình không quân Hoa Kỳ từ nhiều hướng khác nhau (thông thường, MiG-17 đánh vỗ mặt, MiG-21 đánh từ phía sau). Sau khi bắn rơi một vài chiếc trong đội hình Mỹ, bắt các máy bay cường kích F-105 phải hấp tấp ném bom trước khi đến mục tiêu, không chờ đợi sự phản ứng của đối phương, các máy bay MiG biến mất. Chiến thuật “không chiến du kích” của không quân Việt Nam đã rất thành công.

    Máy bay F-105D ”Thần Sấm” của Không lực Hoa Kỳ

    Chiến thuật này nhiều khi lại được sự hậu thuẫn của chính những thói quen thủ cựu đến kỳ quặc của không lực Hoa Kỳ. Ví dụ, vào cuối năm 1966, đội hình tấn công của F-105 đã bay hàng ngày ở một giờ cố định, trên một đường bay cố định và dùng những mật hiệu gọi nhau trong khi bay không thay đổi, lặp đi lặp lại trong rađiô. Các chỉ huy không quân Bắc Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội: vào tháng Chạp năm 1966, các phi công MiG-21 của Trung đoàn 921 đã chặn được tụi Thần sấm trước khi họ gặp được các tốp F-4 hộ tống, bắn rơi 14 chiếc F-105 mà chẳng mất chiếc nào. Đợt chiến đấu này kết thúc vào ngày 2 tháng Giêng năm 1967 khi Đại tá Robin Olds tiến hành chiến dịch “Bolo”.

    Nhân viên kỹ thuật mặt đất Việt Nam đang chuẩn bị cho chuyến xuất kích của hai chiếc MiG-21PF (Trung đoàn không quân tiêm kích 921)

    Về huấn luyện

    Giữa thập kỷ 1960, các phi công Mỹ được tập trung huấn luyện sử dụng tên lửa không đối không (như các loại AIM-7 Sparrow (dẫn đường bằng rađa) và AIM-9 (dẫn đường bằng hồng ngoại)) để giành chiến thắng trong không chiến. Tuy nhiên, họ đã “quên” rằng người phi công ngồi trong khoang lái quan trọng hơn vũ khí họ sử dụng rất nhiều. Nhưng không quân Việt Nam rất biết điều đó, họ huấn luyện và cùng với các phi công của họ khai thác tính năng thế mạnh của những chiếc MiG 17, 19 và 21: nhanh nhẹn, cơ động, sử dụng lối đánh gần, khi mà những chiếc Con ma và Thần sấm hoàn toàn bất lực. Chỉ cho đến năm 1972, khi chương trình “Top Gun” cải thiện kỹ năng không chiến của các phi công Mỹ trong Hải quân Hoa Kỳ như Randall Cunningham, và sự xuất hiện của chiếc F-4E tích hợp khẩu cà-nông 20mm “Núi lửa” (Vulcan) thì tình hình mới được cải thiện.

    Cuối cùng, với mật độ đông đúc máy bay Mỹ trên bầu trời, với cái nhìn của các phi công Việt Nam thì đó là một “chiến trường giàu mục tiêu”, còn với các phi công Mỹ thì Việt Nam là một “mảnh đất nghèo đói”. Các phi công Mỹ không có đủ mục tiêu để có thể san bằng tỷ số, bởi vì làm gì có chiếc MiG nào ở xung quanh mà tiêu diệt! Thời đó, Không quân Việt Nam chưa bao giờ có quá 200 chiếc máy bay chiến đấu.

    Tất cả những yếu tố đó đã tạo ra nhiều Át Việt Nam hơn là Át Hoa Kỳ, và tạo điều kiện cho các phi công Át Việt Nam ghi được nhiều bàn thắng hơn các đối thủ Mỹ. Nói một cách chính thức thì có 16 phi công Át Việt Nam trong toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam (13 người là phi công MiG-21, chỉ có 3 người là phi công MiG-17 và không có Át MiG-19). Trong danh sách dưới đây, con số trong ngoặc đơn ở cột “Chiến công” là số liệu được Không lực Hoa Kỳ chính thức xác nhận, và do đó trên thực tế số “bàn thắng” có thể cao hơn.